Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

Kỹ thuật phòng bệnh cho gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

 Trong thời gian giao mùa Đông Xuân, nhiệt độ xuống thấp kèm hanh khô, thời tiết lại thay đổi thất thường mỗi khi có các đợt gió mùa đông bắc tràn về đây là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh ở gia cầm phát sinh và lây lan mạnh. Trại giống Thu Hà đã đưa ra một số phương pháp phòng bệnh để gà vừa phát triển lại chống chọi được với bệnh tật phát sinh.

Một phương pháp phòng bệnh hiệu quả cho gà là tiêm vaccin đầy đủ.


Xây dựng chuồng chăn nuôi gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Để tránh ngập nước vào mùa mưa thì khi xây dựng chuồng trại cần chọn địa hình cao ráo, bằng phẳng, hướng chuồng trại thích hợp tránh được gió lùa và ánh nắng trực tiếp mặt trời. Xung quanh chuồng cần được che chắn cẩn thận tránh gió lùa mưa tạt.

Chuồng trại được vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo cung cấp đủ oxy và tạo độ thông thoáng. Nên có rào lưới, tre gỗ chắn để tránh sự tấc công của các loại động vật khác như chuột…. Nền chuồng nên rải thêm trấu nhưng cần phải dọn dẹp thường xuyên

Phương pháp úm gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Khi gà đang còn nhỏ thì nên làm lồng úm để đảm bảo cho sự phát triển của gà tốt nhất. Sử dụng các cót tre quây lại, rải thêm lớp trấu lên trên nền chuồng để tạo độ ấm cúng.

Kích thước thích hợp 2m. 1m, chân cao 1/2m đủ cho 100 con gà. Ánh sáng cần đảm bảo và rộng khắp để tránh gà tập trung một chỗ, tốt nhất nên sử dụng 2 bóng 75W.

Chuẩn bị máng ăn, máng uống cho gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Khi gà lớn dần và được 4 – 14 ngày tuổi thì sử dụng máng cho gà con. Từ 15 ngày tuổi trở đi có thể sử dụng máng treo cho gà.

Đối với máng uống thì đặt xen kẽ với các máng ăn trong vườn hoặc chuồng, mỗi ngày thay 2 – 3 lần nước sạch để đảm bảo vệ sinh, sức khỏe cho sự phát triển của gà.

Lựa chọn giống gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Để tạo nên những giống gà chất lượng thì việc lựa chọn những giống gà con phải thật kỹ lưỡng. Lựa chọn giống gà có nguồn gốc rõ ràng, địa chỉ đáng tin cậy.

Đặc điểm của những chú gà con đạt tiêu chuẩn như chân gà cứng, thẳng, tác phong nhanh nhẹn, không cong ngón chân, mắt gà tròn, lông bông phủ kín thân, mang màu lông đặc trưng, rốn khô, bụng thon mềm…

Chăm sóc nuôi dưỡng gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Sáng sớm, chiều mát là hai thời điểm thích hợp nhất di chuyển gà. Tiến hành đưa gà vào úm. Pha các vitamin C cùng chất Electrotyle cho gà uống.

Gà được 2 ngày tuổi cho gà ăn tấm, các loại bột ngô được nghiền nhỏ. Ngày thứ 3 thì đổi sáng thức ăn công nghiệp, cám hỗn hợp dạng viên. Để phòng bệnh nên trộn loại thuốc cầu trùng vào trong thức ăn hàng ngày, cần vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.

Sử dụng khay tôn hoặc khay nhựa, cho ít một thức ăn vào khay để gà sử dụng, đồng thời làm mới nguồn chất dinh dưỡng. Thức ăn có thể là thức ăn công nghiệp, phế phẩm công nông nghiệp…cung cấp đầy đủ các chất khoáng, vitamin, chất đạm, kết hợp các loại rau xanh. Nguồn nước cung cấp cho gà phải đảm bảo an toàn vệ sinh, lượng nước đủ tiêu chuẩn mỗi ngày.

Vệ sinh phòng bệnh cho gà trong thời tiết giao mùa Đông Xuân

Cần vệ sinh sạch sẽ từ chuồng trại cho tới máng ăn, đảm bảo 3 sạch: Ăn sạch, Ở sạch, Uống sạch. Đồng thời cần vệ sinh luôn khu vực lân cận để không ảnh hưởng tới sức khỏe gà.

Cần áp dụng các phương pháp phòng và điều trị bệnh tốt nhất như tiêm phòng các loại vaccin chống dịch cúm. Đặc biệt với loại gà bán thả vườn thì cần cẩn thận phòng chống bệnh cầu trùng trước khi thả gà. Bên cạnh đó cần tiêm vaccin cho gà đúng lịch, đủ liều.

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá nước ngọt

 Không giống như gia súc, gia cầm,...đối với cá việc phát hiện và chuẩn đoán bệnh gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người nuôi phải có kiến thức kỹ thuật và kinh nghiệm. Chính vì vậy trong quá trình nuôi cá nước ngọt việc phòng trị bệnh vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lâu dài và quyết định.

Khi nuôi cá nước ngọt việc phòng bệnh có ý nghĩa lâu dài và quyết định.  

Phòng bệnh tức là áp dụng các biện pháp để tránh đưa mầm bệnh từ ngoài vào ao nuôi hoặc ngăn ngừa mầm bệnh phát triển trong ao như chăm sóc và cho cá ăn đầy đủ (chất và lượng) để cá khỏe mạnh có sức đề kháng tốt với bệnh. Theo công ty TNHH thương mại Trung Việt, nguyên nhân gây bệnh cho cá nuôi trong ao là do sự tác động của 3 yếu tố: Môi tr­ường nước ao nuôi xấu (môi trường sống); Cá bị yếu (vật chủ yếu); Trong ao có nhiều mầm bệnh (ký chủ trung gian).

Người nuôi cần nắm rõ quá trình lây bệnh của cá là từ cá bệnh bài xuất mầm bệnh ra khỏi cơ thể và truyền thẳng sang cá khoẻ. Trường hợp khác là từ cá bệnh bài xuất mầm bệnh ra ngoại cảnh rồi mới vào cá khoẻ. Hoặc từ cá bố mẹ sang cá con, việc lây truyền diễn ra liên tục và đồng loạt sẽ phát sinh dịch.

Nếu đến khi bị bệnh cá bỏ ăn, nếu trộn thuốc vào thức ăn để chữa bệnh th­ường không có hiệu quả. Vì vậy chữa bệnh cho cá thư­ờng rất khó khăn và phức tạp. Môi tr­ường n­ước lại là môi tr­ường dễ lây lan bệnh cho cá. Phòng bệnh là chính, chữa bệnh là phụ.

Vì vậy cần phải có các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Trước tiên là làm sạch môi tr­ường n­ước và ao nuôi từ việc nguồn nư­ớc lấy vào ao phải sạch. Ao quang đãng, xung quanh ao không có cây cối rậm rạp. Tr­ước khi thả cá tháo cạn n­ước, phơi đáy ao và tẩy bằng vôi bột với lượng 10 - 15 kg cho 100 m2. Vớt hết thức ăn thừa (nhất là cỏ, lá) trư­ớc khi cho cá ăn lần mới.

Bên cạnh đó, để tăng sức đề kháng cho cá cần phải chọn cá giống khoẻ mạnh, không bị xây xát, không dị hình. Không thả cá quá nhỏ, không nên nuôi cá với mật độ quá dày. Cá giống mới mua về cần để cá có thời gian quen dần với nư­ớc ao, bằng cách té nư­ớc ao vào thùng, chậu đựng cá giống hoặc ngâm cả túi cá xuống ao 15 phút để cho nhiệt độ trong túi và nư­ớc ao cân bằng nhau, rồi thả cá ra ao.

Tr­ước khi thả cá nên tắm cho cá giống bằng n­ước muối nồng độ 2 - 3% trong 10 -15 phút. Không dùng phân chuồng tư­ơi để bón cho ao; phân chuồng cần ủ với vôi (4 - 5 kg vôi/100kg phân chuông) trong 20 ngày tr­ước khi sử dụng. Có thể bón vôi bột vào n­ước ao định kỳ mỗi tháng 2 lần (Bón 1 - 2 kg vôi cho 100m3 n­ước ao). Cần kiểm tra độ chua của n­ước ao bằng giấy quỳ tím (giấy pH). Dùng thuốc phòng bệnh cho cá vào tr­ước mùa xuất hiện bệnh.

Khi nuôi cá nước ngọt trong ao cần chú ý điều gì

 Những loài cá được chọn nuôi ghép trong ao nước là những loài cá có tính ăn khác nhau (cá ăn thức ăn tự nhiên trong ao thường được làm giàu thêm thông qua việc bón phân) và ăn các loại rau, lá non, bèo tấm, bèo dâu, các loại bột ngô, bột cám từ sản phẩm nông nghiệp.

Trong chăn nuôi cá nước ngọt, nếu chăn nuôi hiệu quả thì lãi lời về kinh tế sẽ lớn cao gấp nhiều lần so với nuôi trồng các loại cây con khác.


Những nơi có tập quán nuôi từ trước chưa có điều kiện thâm canh thì nên sử dụng các đối tượng: Cá trắm cỏ, cá chép, cá mè, cá trôi Ẩn Độ, cá rô phi. Những nơi có điều kiện thâm canh, nuôi năng suất cao cần sử dụng các đối tượng: Cá chim trắng; cá rô phi đơn tính, cá chép lai, cá rô đầu vuông.

Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đó là nguồn nước sạch, không gần nơi ô nhiễm. Ao được thiết kế chuẩn trong nuôi thủy sản có cống cấp và thoát nước. Đáy ao bằng phẳng, hơi dốc về phía cống thoát. Cống cấp cách đáy 0,8 - 1 m, cống thoát nước nằm sát đáy ao.

Chọn, thả con giống

Chất lượng con giống sẽ quyết định quá trình sinh trưởng phát triển của đàn cá sau này. Bởi vậy, bà con cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng, đều con, bơi lội hoạt bát, không dị hình. Vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, quy cỡ tiêu chuẩn khoảng 8 - 12 cm. Màu sắc cá tươi sáng, đặc trưng với từng loài.

Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả giống cần tắm khử trùng cho cá trong dung dịch muối ăn nồng độ 2 - 3% trong 5 - 10 phút, thuốc tím nồng độ 0,001 - 0,002% (1 g thuốc tím hòa trong 50 - 100 lít nước sạch), trong 10 - 20 phút hoặc dung dịch CuSO4, nồng độ 0,5 - 0,7 g/m3 nước trong 20 - 30 phút.

Tùy vào hình thức nuôi, thả với mật độ khác nhau. Nuôi trong ao nước tĩnh (nuôi đơn hay nuôi ghép) thả với mật độ 1 - 2 con/m2 mặt nước. Nuôi ghép ao nước chảy thả khoảng 3 - 5 con/m2. Khi thả ghép, tùy vào điều kiện ao nuôi mà nên chọn đối tượng cho phù hợp. Ao có diện tích lớn hơn 1.000 m2, màu nước xanh lá chuối, phân chuồng nhiều nên nuôi cá mè là đối tượng chính. 

Quản lý, chăm sóc đàn cá

Lựa chọn thức ăn cho đàn cá cần phải phù hợp theo độ tuổi, nên sử dụng toàn bộ thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn viên các tháng đầu và cuối, còn những tháng giữa vụ cho ăn thức ăn tự chế từ nguồn phụ phẩm tại chỗ và rau. Cá nhỏ cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao và giảm dần khi cá lớn. Cá nhỏ cho ăn với lượng 5 - 7% trọng lượng thân, cá lớn cho ăn  2 - 3% trọng lượng thân.

Ngoài ra, trong quá trình nuôi bà con cần theo dõi môi trường nước, mức độ ăn của đàn cá để nhận biết những dấu hiệu phát sinh dịch bệnh. Định kỳ 20 - 30 ngày bà con tiến hành thay nước, xử lý môi trường ao nuôi bằng vôi hòa tan trong nước hoặc dùng đến chế phẩm sinh học. 

Kỹ thuật cách nuôi cá chạch

 Cá chạch có thịt thơm ngon, xương mềm nên thị trường nội địa tiêu thụ rất mạnh. Thông tin đăng tải trên báo Nông Nghiệp, ông Bùi Vĩnh Thái, người đầu tiên ở An Giang thực hiện mô hình nuôi cá chạch trong ao đất mang lại hiệu quả cao. Theo kinh nghiệm của ông Thái, cá chạch tuy tỷ lệ hao hụt hơi cao, nhưng dễ nuôi, mau lớn, hồ nuôi chỉ cần nước sạch, thông thoáng, không đòi hỏi phải có cánh quạt nước nên đỡ tốn kém. Thời gian nuôi từ lúc mới thả đến lúc thu hoạch mất 3 tháng rưỡi. Kích thước bình quân của một con cá trưởng thành là 15 cm, dài nhất 28 cm (25 - 30 con/kg). Đặc biệt, cá chạch khi chuyển đi xa, người ta có thể ướp nước đá cho cá ngủ đông trong khoảng 5 tiếng đồng hồ. Sau đó thả cá vào nước ngọt, cá sẽ sống lại nên rất thuận tiện cho việc chuyên chở.

Các chạch bùn có thịt thơm ngon, xương mềm nên được thị trường rất ưa chuộng. 


Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An, ở Việt Nam, chạch bùn phân bố tự nhiên ở miền Bắc, miền Trung. Trong tự nhiên chạch \ sống đáy, ở khu vực nước nông của sông, ao, hồ, kênh mương, ưa nước sạch; không thích hợp với môi trường bùn đáy ô nhiễm nhiều mùn bã hữu cơ.

Chạch có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ 15-300C, thích hợp nhất là 25-270C. Cỡ thương phẩm từ 25-30g/con, chiều dài 13-15cm, con to nhất có thể đạt 100g/con dài 20cm. Cá hô hấp bằng mang và da. Khi nước thiếu oxy cá có thể lên mặt nước đớp không khí, thực hiện việc trao đổi khí trong ruột sau đó khí được thải qua hậu môn ra ngoài. Khi thời tiết quá lạnh, quá nóng, cá rúc sâu xuống bùn.

Thời gian từ khi ép đẻ nhân tạo và nuôi cho đến khi xuất bán trong vòng bốn tháng, cá được chừng 10-15cm. Tuổi thành thục: 2 năm tuổi. Mùa đẻ trứng: từ tháng 4 đến tháng 9, rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 7.

Lượng trứng: Cá cái thân dài 8 cm có khoảng 7000 trứng; thân dài 15 cm có khoảng 12-18.000 trứng; thân dài 20 cm có 16-24.000 trứng. Trứng có dạng hình tròn, đường kính 1,2-1,5 mm, màu vàng, dính nhẹ.

Khi đẻ trứng chạch đực dùng móm kích thích vào bụng cá cái, cá cái ngoi lên mặt nước, cá đực đuổi theo và quấn chặt vào thân cá cái, lúc này con cái đẻ trứng, con đực phóng tinh. Trứng cá bám dính trên cỏ hoặc các vật khác, sau 2-3 ngày trứng nở thành cá bột.

Mô hình khi nuôi cá chạch

Nuôi trong ao: mực nước không quá 40cm, trong ao có các mương, hố sâu 50-60cm để chạch trú ẩn. Theo Việt Linh, bà con có thể thả bèo tây để tạo chỗ trú ẩn cho cá tránh nóng, tránh rét và làm sạch môi trường nước. Khi trời rét cũng có thể sử dụng rơm rạ thả cho cá trú ẩn, đồng thời bơm nước cao từ 70-80cm để nuôi xen canh với các loại cá khác như trắm đen, cá chép để tận dụng thức ăn dư thừa.

Nuôi trong ruộng: đáy bùn phải sạch, mức nước: 20 - 40 cm, độ dày bùn đáy: 15-20cm. Bón phân chuồng ủ hoai mục trước khi cấy lúa để tạo thức ăn tự nhiên cho chạch. Đào mương nhỏ rộng 1,2-1,5 m, sâu: 30-40 cm chạy dài quanh ruộng để cá trú nắng và tháo nước khi thu hoạch. Nuôi trong ruộng có thể đạt tỷ lệ sống 70-90%.

Thời điểm thả nuôi: tháng 3- 4 sau khi cấy lúa xong. Sau 5-6 tháng nuôi cá chạch thương phẩm đạt kích cỡ 25-40 con/kg có thể thu tỉa hoạc thu toàn bộ.

Nuôi ghép: Có thể nuôi cua kết hợp với chạch bùn nếu được cung cấp đủ thức ăn.

Chọn giống và thả giống khi nuôi cá chạch

Giống khai thác tự nhiên: bắt bằng đơm đó, chũm; không mua giống đánh bắt bằng điện. Giống phải đồng đều 4-6 cm, không xây xát, mất nhớt.

Giống nhân tạo: Khi ép đẻ cá chạch, khó khăn nhất là thời gian nuôi từ trứng ra con giống dài từ vài li đến 3cm. Chạch sau khi được 3cm sẽ sống khoẻ, nuôi dễ dàng.

Nên chọn cỡ giống 1,5-2g/con. Mật độ thả: 30-50 con/m2. Hoặc thả 10-15 kg chạch giống /100 m2 ao.

Cho ăn và chăm sóc khi nuôi cá chạch

Thức ăn: Chạch ăn tạp, lúc nhỏ ăn động vật là chính (động vật đáy, động vật phù du) lúc lớn ăn thực vật là chủ yếu. Cỡ dưới 5 cm chủ yếu ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo và các động vật phù du khác. Cỡ 5 - 8cm ngoài động vật phù du, cá có thể ăn giun nhỏ và ấu trùng muỗi lắc. Cỡ 8 - 9cm cá ăn tảo khuê, thân lá cây cỏ non và hạt ngũ cốc, cỡ trên 9cm chạch chuyển sang ăn thực vật là chính.

Có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như: khô đậu, cám gạo, nhộng tằm, thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp, cá tạp, ốc xay. Thức ăn công nghiệp dạng viên nổi dùng cho cá chạch có hàm lượng đạm từ 30-35%. Lượng thức ăn: 5-8% trọng lượng thân

Thời gian cho ăn: Cá có tập tính ăn chủ yếu vào ban đêm, nên cho cá vào chiều tối. Cho ăn 1-2 lần / ngày. Thường xuyên kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá.

Kỹ thuật cách nuôi cá linh

 Cá linh hay còn gọi là linh ngư là chi cá thuộc họ Cá chép. Chúng là các loài cá trắng nên chỉ thích hợp môi trường nước chảy. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cá linh là loài cá phổ biến vào mùa nước nổi, chúng bơi khắp các đồng rộng, sông dài, kinh to, rạch nhỏ (nhưng lại rất hiếm đối với các tỉnh vùng hạ lưu.

Hiện nay, sản lượng cá Linh ngày càng giảm sút rõ rệt, cần phải có biện pháp để bảo vệ. Vì vậy, nếu mở mô hình nuôi cá linh có thể cho hiệu quả kinh tế cao vì thị trường đang rất ưa chuộng loài cá này. Trung tâm Giống Thủy sản An Giang đã đưa ra những kỹ thuật nuôi cá linh giúp bà con nông dân phát triển mô hình chăn nuôi hiệu quả.

Cá linh được coi là món đặc sản ở miền Tây Nam Bộ


Chuẩn bị ao khi nuôi cá linh 

Diện tích ao nuôi khoảng từ 1000 đến 1.500 m2 trở lên. Độ sâu từ 0.8 m trở lên. Ao cần được tát cạn, bắt hết cá tạp, vét bùn đáy ao, lấp hang cua, ếch, chuột, lươn ..... Đắp lại những chỗ sạt lở, sửa lại cống bọng, dọn cỏ quanh bờ ao để tránh địch hại vào ao trong giai đoạn đầu thả cá giống. Sử dụng vôi để bón ao, lượng vôi dùng để rải và bón từ 7-10 kg/ 100m2 ao, sau khi rải vôi, ao được phơi nắng từ 2-3 ngày.

Cấp nước vào ao và tạo thức ăn tự nhiên: Cấp nước vào phải lọc qua túi lưới thật mịn để tránh trứng, cá tạp, giáp xác,... Gây thức ăn tự nhiên: sử dụng 3-5 kg bột đậu nành (loại 40% đạm) hoặc phân Urê 2-3 kg cho 1.000 m2 ao. Bổ sung vi sinh cho ao bằng các chế phẩm sinh học như Zeofish,… Trước khi thả cá cần kiểm tra lại các yếu tố môi trường nước ao ương sao cho: pH nước: 7-8, T0 : 26-300C, Oxy: >= 3 mg/l; NH3 < 0.01 mg/l.

Quản lý và chăm sóc khi nuôi cá linh 

Kích cỡ giống thả nuôi: 1.500 con/kg (cá linh giống được ương trong ao khoảng 40 ngày tuổi). Mật độ thả nuôi: 100 con/m2

Thức ăn sử dụng là thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm dao động từ 28-30% phối hợp cám gạo có hàm lượng đạm từ 13-14%, trong quá trình nuôi phải gây và giữ được màu nước tốt để tạo nguồn tảo phong phú cho cá linh ống.

Thức ăn được chia đều thành 2 phần, buổi sáng cho ăn lúc 8h30-9h00, chiều cho ăn lúc 16h, định kỳ 7-10 ngày bón phân Ure với liều lượng dao động từ 1-2 kg tùy theo màu nước để tạo thức ăn tự nhiên cho cá. Định kỳ 15 ngày cân mẫu cá một lần để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Hình thức cho ăn: trộn thức ăn công nghiệp với cám gạo và đặt vào sàn ăn.

Trong quá trình nuôi có bổ xung vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn 2 lần/tuần, giúp cá tăng sức đề kháng. Thời gian sau khi cá lớn (từ 3g trở lên), thời gian này lượng thức ăn cung cấp hằng ngày tăng nên lượng chất thải do cá thải ra là rất nhanh làm bẩn nước nuôi, vì thế chế độ thay nước là rất cần thiết để đảm bảo cho cá không bệnh và thịt cá không bị hôi rong, hôi bùn. 

Một số biện pháp phòng và trị bệnh khi nuôi cá linh

Chú ý vệ sinh ao hầm tốt thì cá ít bệnh. Biện pháp tốt nhất là cho cá ăn đầy đủ cả về lượng và chất, giữ cho môi trường nuôi sạch không bị nhiễm bẩn cá sẽ khỏe mạnh và tăng trưởng tốt. Để tăng sức đề kháng cho cá cần bổ sung thêm Vitamin C vào thức ăn 2 lần/tuần.

Trộn thêm men tiêu hoá hoặc men vi sinh 1-2 lần/ tuần để giúp cá tiêu hoá tốt thức ăn và phòng một số bệnh trên hệ tiêu hoá. Định kỳ xử lý môi trường nước ao bằng các chế phẩm sinh học như Zeofish, Eco Marine, NB-25,… Cứ 10 – 15 ngày/lần, đảm bảo các yếu tố môi trường nước: pH nước: 7.0-8.5; T0: 26-300C; Oxy: > 2 mg/lít

Để khắc phục hiện tượng thiếu oxy cũng như bổ sung thêm dưỡng khí cho cá, hộ nuôi lắp đặt ống nước để bơm đảo nước, thời gian máy hoạt động từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau. Thường xuyên kiểm tra hệ thống bơm nước để đảm bảo đủ oxy cho cá. Trong trường hợp cúp điện hay hệ thống bơm nước hư hỏng đột xuất có thể sử dụng zeolite tạo oxy đáy cho ao.

Thu hoạch khi nuôi cá linh

Việc thu hoạch cá linh không giống như các đối tượng khác, cá linh nhảy rất nhanh nên không thể nào kéo hết ao trong 1-2 lần đi lưới, thông thường phải hạ thấp nước và kéo từ 3-4 lưới/ao. Khi kéo cá cũng chú ý nhiều đến sức khỏe của cá, cá dễ bị chết khi dồn cá trong lưới với mật độ cao.


Kỹ thuật cách nuôi cá bớp thương phẩm

 Cá Bớp thường sống vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng nước ấm của biển ôn đới. Trong tự nhiên Cá Bớp sống ở vùng nước mặn hoặc vùng nước lợ ven biển, rạn san hô cho đến vùng biển khơi. Ở nước ta, loài cá nàynuôi khá phổ biến ở nhiều tỉnh ven biển như Quảng Ninh , Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Kiên Giang. Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi lồng trên biển.

Cá bớp là loài cá ăn tạp nhanh lớn.


Loài cá này thuộc loại dữ, ăn thịt động vật, thức ăn tự nhiên gồm cua, tôm, ốc và các loại cá con. Tốc độ sinh trưởng của cá nhanh, có thể đạt cỡ 4-6kg sau một năm nuôi. Hiện nay, giá của loài cá này trên thị trường khá cao, dao động từ khoảng 150.000 đồng/kg - 200.000 đồng/kg.

Lồng nuôi cá bớp

Với loài cá này, do có sức tốt nên có thể nuôi cả ở vùng vịnh kín gió hoặc vùng biển có sóng lớn tùy vào điều kiện bãi nuôi. Hiện nay, 2 loại lồng được sử dụng phổ biến trong nuôi cá bớp là lồng gỗ thường được dùng nuôi cá ở vùng vịnh kín gió và lồng nhựa chịu lực HDPE hình tròn có thể nuôi được ở những vùng biển hở có sóng gió lớn. 

Cỡ mắt lưới lồng dùng cho lồng nuôi cá thương phẩm tăng dần theo tăng trưởng của cá. Diện tích lồng bè lớn, với lồng nhựa chịu lực thường có thể tích khoảng 300 m3 trở lên. Lồng gỗ quây sắt thường có thể tích từ 30 - 180 m3. 

Kỹ thuật chọn giống và thả giống cá bớp

Cỡ giống thả khoảng từ 70 đến 75 ngày tuổi, chiều dài cá đạt 10cm đến 12cm, khối lượng trung bình 12g. Cần chọn cá giống đều cỡ, khỏe mạnh , không xây xát và mang bệnh.

Do cá bớp có tốc độ sinh trưởng nhanh, khi thu hoạch, cá thịt đạt trung bình 5kg/con nên mật độ thả nuôi ban đầu cần dừng ở mức 5-6 con/m3·    

Trước khi thả cá cần tắm cá qua 5 – 10 phút kết hợp với sục khí để loại mầm bệnh ký sinh trên cá, hoặc tắm thuốc tím nồng độ 5 ppm trong thời gian 15 – 20 phút. Nên thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.     

Thức ăn và quản lý lồng nuôi cá bớp

Nên sử dụng cá tươi nhỏ, cá tạp làm thức ăn cho cá, mỗi lần cho ăn khoảng 5-8% tổng khối lượng đàn cá nuôi. Nếu sử dụng thức ăn công nghiệpScần sử dụng những loại cám uy tín chất lượng cỡ thức ăn phù hợp theo độ tăng trưởng của cá từ 2-16mm. Cho cá ăn ngày 2 lần, sáng và chiều.

Trong quá trình nuôi cần theo dõi tình trạng sức khỏe và bệnh tật của cá để kịp thời xử lý. Cần định kỳ vệ sinh và thay lưới lồng 2-3 tháng/lần để đảm bảo thông thoáng cho lồng nuôi. Cần định kỳ kiểm tra các bộ phận lồng nuôi (phao, khung,dây neo, lưới…) và khi cần thì kịp thời bảo dưỡng hoặc thay thế để giảm thiểu rủi ro do hư hỏng lồng. Hàng tháng đo mẫu để xác định tăng trưởng của cá (chiều dài và khối lượng cá), qua đó xác định được khối lượng đàn cá trong lồng để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý.

kỹ thuật cách nuôi cá tra trong ao

 Họ Cá tra là tên gọi một họ chứa khoảng 28 loài cá nước ngọt đã biết thuộc bộ Cá da trơn. Các loài trong họ này được tìm thấy trong các vùng nước ngọt và nước lợ. Trong số 28 loài của họ này thì loài cá tra dầu một loài cá ăn rong cỏ và đang ở tình trạng nguy cấp, là một trong những loài cá nước ngọt lớn.

Vây lưng của các loài cá này nằm gần đầu, thông thường cao và có hình tam giác, khoảng 5-7 tia vây và 1-2 gai. Vây hậu môn hơi dài, với 26-46 tia. Thông thường chúng có hai cặp râu hàm trên và một cặp râu cằm, ở cá tra dầu trưởng thành chỉ có các râu hàm trên. Thân hình đặc chắc. Vây béo (mỡ) nhỏ cũng tồn tại.

Cá tra có giá trị xuất khẩu cao.


Chuẩn bị ao khi nuôi cá tra trong ao

Ao nuôi cá tra có diện tích từ  500 m2 trở lên, có độ sâu nước 1,5-2m, bờ ao chắc chắn và cao hơn mực nước cao nhất trong năm. Cần thiết kế cống để chủ động cấp thoát nước dễ dàng cho ao. Trước khi thả cá phải tháo cạn hoặc tát cạn ao, bắt hết cá trong ao. Dọn sạch rong, cỏ dưới đáy ao và bờ ao. Vét bớt bùn lỏng đáy ao, chỉ  để lại lớp bùn đáy dày 0,2-0,3 m.

 Lấp hết hang hốc, lỗ mọi và tu sửa lại bờ, mái bờ ao. Dùng vôi bột rải khắp đáy ao va bờ ao, 7-10 kg/100m2. Phơi đáy ao 2-3 ngày. Sau cùng cho nước từ  từ  vào ao qua cống có chắn lưới lọc để ngăn cá dữ và dịch hại lọt vào ao.

Chọn và thả cá giống khi nuôi cá tra trong ao

Theo trung tâm Khuyến nông Cần Thơ,  cá giống phải có kích cỡ đồng đều, nhiều nhớt, không xây xát. Thông thường thả cá tra giống kích cỡ 80 – 100g/ con. Mật độ thả nuôi: 5 - 8 con/m2 . Cá tra thả nuôi được quanh năm.

Nên vận chuyển cá giống lúc trời mát, vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, chuyển cá bằng bao nilon bơm oxy với mật độ: 200 con/bao (60 x 100 cm). Dùng dây thun buộc 2 góc bao nilon lại tránh gai nhọn của vây cá đâm vào nilon làm thủng bao. Trước khi thả cá vào ao phải ngâm bao trong nước 15 phút để tránh sốc nhiệt do chênh lệch nhiệt độ giữa bao đựng cá và môi trường nước ao nuôi.

Nếu ao nuôi có diện tích lớn hơn 300 m2 thì dùng lưới cước chắn lại khoảng 50 - 100 m2 ao, thả cá giống vào để dễ chăm sóc và quản lý. Sau thời gian từ 15 - 30 ngày tùy theo diện tích lưới chắn, sau đó mở lưới để cá ra ao. Có thể thả thêm cá chép với lượng 5% tổng số cá thả.

Thức ăn khi nuôi cá tra trong ao

Đối với cá tra, thức ăn có 2 dạng:Thức ăn công nghiệp đã được chế biến dùng cho cá và thức ăn tự chế từ nguồn nguyên liệu là phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với các loại tôm, cua, cá tạp để chế biến thức ăn cho cá nuôi, đồng thời cần bổ sung thêm khóang vi lượng và Vitamin C để kích thích cá ăn và sinh trưởng.

Cách cho ăn: Các nguyên liệu được xay nuhyễn, trộn đều cùng chất kết dính (bột gòn) để hạn chế việc tan rã nhanh của thức ăn, sau đó rải từ  từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần sáng và chiều tối Khẩu phần thức ăn 5-7% trọng lượng thân.

 

Quản lý chăm sóc và thu hoạch khi nuôi cá tra trong ao

Thường xuyên theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp. Khi bắt đầu cho ăn vì cá đói nên tập trung để giành ăn. Khi ăn đr no thì cá tản ra xa, khôn go lại nữa. Mặc dù cá tra chịu rất tốt trong điều kiện nuôi mật độ cao và nước ao ít thay đổi, nhưng cần chú ý thay bỏ định kỳ nước cũ và cấp nước mới để môi trường ao luôn sạch, phòng cho cá không bị nhiễm bệnh. Cứ 10 ngày thì thay từ 30% đến 50% nước cũ và cấp đủ nước sạch cho ao.

Thời gian nuôi trung bình 10 tháng, cá dạt cỡ 0,7-1,5 kg/con. Có thể thu hoạch 1 lần và giữ lại cá nhỏ chưa đạt cỡ thương phẩm. Sau vụ thu hoạch phải tát cạn ao và làm công tác chuẩn bị cho vụ nuôi kế tiếp.

Kỹ thuật cách nuôi heo rừng thuần chủng

  Vài năm trở lại đây, ở một số tỉnh ở Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Tp.HCM “ mọc ” lên những địa chủ nuôi heo rừng, có nơ...